Truyền thông nhà nước ngày 22/6/2026 đưa tin, Thủ tướng Lê Minh Hưng dự lễ khởi công 5 tuyến Đường sắt đô thị, và 3 dự án nhà ở cho thuê tại Hà Nội với tổng vốn hơn 1,3 triệu tỷ đồng.
Trong bối cảnh ông Tô Lâm đã đặt ra một mục tiêu đầy tham vọng, đưa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt ít nhất 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030, nhằm mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia thoát nghèo.
Để kích hoạt cỗ máy kinh tế này, một chiến lược thúc đẩy đầu tư công quy mô chưa từng có đang được triển khai một cách ồ ạt. Chỉ riêng trong năm 2026, cả nước đã đồng loạt triển khai hơn 550 dự án hạ tầng lớn nhỏ với tổng số vốn đầu tư lên tới khoảng 200 tỷ USD.
Cụ thể, hàng loạt các dự án mang tính biểu tượng quốc gia như: Điện Hạt nhân, Đường sắt Cao tốc Bắc – Nam, đại lộ Sông Hồng, cùng mạng lưới đường sắt đô thị tại các đô thị như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu việc dồn toàn lực vào các đại dự án hạ tầng này có đủ để duy trì tốc độ tăng trưởng % GDP 2 con số một cách bền vững trong dài hạn, hay nó sẽ tạo ra những hệ lụy khôn lường cho nền kinh tế?
Theo giới chuyên gia, các dự án hạ tầng quy mô lớn luôn là một công cụ đặc biệt quan trọng để kích cầu ở cả ngắn hạn lẫn trong dài hạn.
Trong ngắn hạn, việc bơm hàng trăm tỷ USD vào các siêu dự án sẽ tạo ra hàng triệu việc làm, kích thích dòng tiền lưu thông và thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu tiêu thụ đối với các ngành công nghiệp phụ trợ như thép, xi măng, xây dựng và dịch vụ logistics.
Về mặt dài hạn, hệ thống giao thông, năng lượng và mảng logistics hiện đại được kỳ vọng sẽ giúp nâng cao năng suất lao động và tối ưu hóa khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, giới phân tích tài chính quốc tế thẳng thắn cảnh báo rằng, kinh nghiệm từ các quốc gia vội phát triển nóng, như Trung Quốc và chính Việt Nam trong quá khứ, vẫn tồn tại không ít những dự án đầu tư có quy mô rất lớn nhưng hiệu quả khai thác lại cực kỳ thấp.
Các dự án nếu không được quy hoạch với một tầm nhìn dài hạn kéo dài từ 30 năm hoặc lâu hơn nữa, thì sẽ chỉ tạo ra một hiệu ứng tăng trưởng ảo, ngắn hạn trong giai đoạn xây dựng, để rồi sau đó để lại những gánh nặng tài chính khổng lồ sau khi đưa vào vận hành.
Thêm vào đó, nếu buông lỏng quản lý các đại dự án sẽ biến thành những hố đen hút cạn tài nguyên quốc gia trong thời gian rất dài.
Đặc biệt, mục tiêu tăng trưởng đạt mức 2 con số của ông Tô Lâm đang phải đối mặt với những thách thức địa chính trị và kinh tế toàn cầu vô cùng gay gắt, đã và đang giáng một cú sốc tiêu cực từ bên ngoài vào nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.
Hệ lụy trực tiếp là nguy cơ các siêu dự án cốt lõi như Đường sắt Cao tốc, hay Điện Hạt nhân…, sẽ rơi vào cảnh đội vốn nghiêm trọng, chậm tiến độ kéo dài và suy giảm hiệu quả tài chính một cách nặng nề.
Những rủi ro này cấu thành một rào cản khổng lồ, khiến mục tiêu tăng trưởng bình quân trên 10% trong giai đoạn 2026 – 2030 trở nên cực kỳ khó khăn và xa vời, ngay cả trong những năm đầu triển khai kế hoạch.
Chính vì vậy, để đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, ông Tô Lâm cần nhận thức rõ rằng các siêu dự án hạ tầng tuy là động lực lớn nhưng không phải là liều thuốc vạn năng cho mọi căn bệnh của nền kinh tế.
Nếu bộ máy điều hành chỉ tập trung vào việc đổ vốn ồ ạt cho các công trình bề nổi mà bỏ quên các cải cách cấu trúc chiều sâu để cải thiện môi trường chính trị ổn định và phát triển nguồn vốn con người, thì con số tăng trưởng 10% sẽ mãi là một mục tiêu xa xỉ trên các bản báo cáo chính trị.
Trà My – Thoibao.de










